Sự Tích Tổ Tiên

Thứ tư - 02/03/2011 09:07
A.- SỰ TÍCH TIÊN TỔ.
Bài viết này dựa vào một số tài liệu bằng chữ Hán Nôm được Ôg Văn Sỹ Thọ (Phái Quỳnh Thiện) dịch theo: Vè tích Văn tộc, theo cảo của Ôg Cao Biền (nhà dịa lý đại tài nước Trung Quốc) và theo bài viết của Ôg Tiến sĩ Văn Đức Giai. Đối chiếu với hình đất mộ Tổ tại núi Sứ thuộc địa phận xã Quỳnh Hợp nay là xã Mai Hùng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
-Xin bổ sung thêm về niên đại của Ông Cao Biền và hậu duệ của Ôg Cao Biền có mặt tại Việt Nam. Qua đó có thể xác định gần đúng về niên đại ngôi mộ Tổ tại Sứ Sơn.
Văn Qúy Minh Tuấn+Văn Hiền chụp 14/09/2010 tại sân bay Vinh
Văn Qúy Minh Tuấn+Văn Hiền chụp 14/09/2010 tại sân bay Vinh

TÍCH TỔ VĂN TỘC.
₪₪₪♨₪₪₪


I- Theo vè tích Tổ Văn Tộc.
Xa xưa có hai ông bà từ phương Bắc di cư đến phương Nam, khi đến vùng đất Châu Ái ( vùng đất Nghệ - Tỉnh ngày nay), sinh sống bằng nghề chèo đò trên sông Hoàng Mai (nay thuộc xã Mai Hùng-Quỳnh Lưu-Nghệ An).
Tuy cuộc sống nghèo khó nhưng Ông Bà lại khí khái , hay làm việc nghĩa, lấy Nhân Cơ- Nghĩa Chỉ làm nền móng cho cuộc sống, ghét bỏ gian ngoa, xu nịnh. “Kính sở tôn, ái sở thân” đó là phong cách cuộc sống của Ông Bà mà nhân dân khắp vùng Ông Bà sinh sống ca ngợi và được truyền khẩu cho đến ngày nay.
Gần ngôi nhà Ông Bà ở có cây đa cổ thụ, sau một đêm mưa to bão lớn, cây đa bị đổ, sáng ra Ông Bà thấy ở gốc đa có mấy cái tiểu , mở xem thì đó là mấy tiểu vàng. Ông Bà đem vào cất giữ trong nhà, đợi có người mất của đến tìm lại sẽ trao cho họ. Cuộc sống bằng nghề chèo đò ngang sông, sinh sống đạm bạc vẫn như xưa.
Thời gian sau , có mấy người từ Tung Hoa – có lẽ là cháu, chắc của người cất dấu hai tiểu vàng – theo di chúc của người trước để lại, họ đã đến tìm lại mấy tiểu vàng đó. Ông Bà biết là mấy tiểu vàng đó là của các vị khách kia, mang ra trao lại cho khách. Sau khi nhận lại của, các vị khách xin biếu Ông Bà một nữa số vàng, song Ông Bà quyết không nhận, vì cho rằng của đó không chính do mồ hôi của mình làm nên.
Cảm kích trước tấm lòng cao cả của Ông Bà. Để đáp ân, họ tìm thầy địa lý giỏi tầm sơn điểm huyệt cho Ông Bà, ngõ hầu sau này con cháu của Ông Bà đời đời hưởng phúc, công hầu khanh tướng vinh quang.
Thấy Ông Bà tuổi cao sức yếu, không còn sống được bao lâu nữa, họ bàn với Ông Bà nên biệt ly, hy sinh cao cả cho con cháu mai sau đời đời hưởng phúc. Ông Bà đã ngồi vào chum kiệu, ngậm sâm với ngọn đèn bách nhật chôn xuống huyệt
Cảnh biệt ly đó được dấu kín, dân quanh vùng không ai biết. Con cháu trong nhà vẫn chèo đò ngang, tiếp nối nghề của cha ông kiếm sống.
Mấy năm sau, có tướng giặc bị quân triều đình ta đánh trọng thương nặng ở cửa Lạch Cờn chạy vào Hoàng Mai, gặp con cháu Ông Bà chèo đò xin ăn và cứu chữa, sau khi được cho ăn và cứu chữa, tướng giặc tự trói tay và tự thú với người chèo đò xin hàng, yêu cầu gia đình đem nộp lên nhà quan để hưởng công .
Do đã có công lớn bắt được tướng giặc, nên triều đình lúc bấy giờ đã thưởng công, cho con cháu của Ông Bà được vào ăn học trong triều. Từ đó nổi lên một họ tộc Văn có nhiều người thành đạt trong chốn quan trường về cả văn, lẫn võ trãi dài qua các thời đại lịch sử của dân tộc, từ: Đinh-Lê (Tiền Lê)- Lý- Trần - Lê (Hậu Lê) – Nguyễn – Hồ Chí Minh………Các Công hầu khanh tương Văn tộc được trong triều kính nễ, người dân ủng hộ.
*Dân tộc Việt Nam suốt mười thế kỷ (1000 năm) bị đô hộ của phương Bắc –Từ năm 111 trước công nguyên (nhà Tây Hán ) đến năm 938 (nhà Nam Hán) Ngô Quyền giành được độc lập thì không một họ tộc nào có được sử sách lưu truyền cho hậu duệ. Riêng Văn Tộc của chúng ta cho đến thế kỷ 13 mới thấy xuất hiện trong gia phổ của các chi, phái. Sự thất tích của Văn Tộc cũng không nằm ngoài lý do trên.
II- Dựa theo cảo của Ô. Cao Biền.
1.- Di Cảo
Huyện Quỳnh Lưu xứ Tảo Nha ( tên vùng đất núi Sứ xưa ) địa thế nghiêm chỉnh, hình theo chiều tà, bên tả Rồng sinh ấn vuông, bên phải Hổ hiện như ngọc sa sáng chói, đất eo như lưng Ong, thẳng như gối Hạc, lại lóng lánh như đôi mắt Cua, sáng ngời như đôi tròng Cá.
Sau huyệt, núi tỏa ngang rồi ôm vòng bọc huyệt, án trước phun nhả sóng cuồn cuộn. Thế đất nơi trung tâm như Rắn vàng trong động tung ra, lại như chim nhạn trắng gieo mình tới sông Mai (Hoàng Mai).
Bên này cờ trống rập rình, bên kia giáo mác la liệt, đất này như đúng huyệt: Võ phái hành tướng điều khiển từng Lữ đoàn, trai hôn nhơn với con gái nhà Vua.
2.- Xác nhận di cảo của Ôg Cao Biền .
Đời vua Tự Đức có Ông Văn Đức Giai (1809-1867) (phái Quỳnh Đôi), tiếp theo có các vị như Tú tài Văn Đức Thùy, Ôg Văn Đức Đôn (phái Quỳnh Đôi), Cử nhân Văn Đình Do (phái Thanh Khai-Thanh Chương), Tú tài Văn Đình Liêu (phái Hương Sơn), và sau đó cũng có một số đông người đến tại huyệt mộ núi Sứ đều thấy di cảo của Ông Cao Biền là đúng địa lý của huyệt.
III- Bài viết của Ôg Văn Đức Giai.
Phát tích từ núi Trà Sơn kéo dài qua núi Quỳnh Lâm chuyển thấp tới xã Phú Hiệp (nay là xã Mai Hùng) thôn Yên Phú lại bồi cao lên dựng lề hòn núi Lăng. Hòn núi Lăng mở rộng ngang, nhập liền hòn núi chính, dựng lên cao hơn tức là núi Sứ - nơi huyệt chính để mộ.
Hai bên núi Sứ tỏa ra như hai cánh tay ôm bọc huyệt, địa lý xưa gọi là Thủy Tinh, hình rất nghiêm trang, trung chính, các nhà địa lý xưa gọi là hình Tướng Quân ngồi đợi.
Mạch xuất phát từ trung tâm núi chạy ra hai bên, thành hai con khe rồi vòng lại ở trước huyệt. Phía bên tả - địa lý xưa gọi là Rồng, có dãy núi kéo dài đến trước huyệt rồi cao lên, làm tiền án chầu lên huyệt, có nơi hình ngọn cao, có nơi hình cờ lấp lánh, trông qua ngọn núi này lại có một gò cao vòng theo bờ sông Mai, tục gọi là Cồn Chùa, địa lý xưa gọi là Thổ Tinh, làm ngoại án gồm vành ngoài phía bên phải – địa lý xưa gọi là Bạch Hổ, nối dãy núi chạy từ địa phận………..(1)hiền hơn.
Thôn Yên Phú cao lên – địa lý gọi là Bình phong – vòng quanh rồi quay về huyệt nên gọi là Quân gia ngồi chầu.
Phía bên trái gọi là ngoại Long, một dãy núi rẽ từ Quan sơn (núi Mồng Gà) chạy dài qua thôn Thọ Vĩnh và thôn Thiện Kỵ như đưa mình bay tới Mai Giang nơi ẩn nối liền tới núi đá Tam Thai (tục là Ba Voi) quay đầu về chầu huyệt.
Trông thẳng ra xa núi Hùng Dương (ở về làng Phương Cần xã Quỳnh Phương hiện nay) núi Đò Sơn (xã Quỳnh Lập) là án ngoài tiếp ra biển Đông dập dờn là một làn sóng rộng – địa lý xưa gọi là Đại Minh đường.
Núi và biển đều hướng về trước huyệt. Tất cả núi, đồi, sông, biển hình thể trên đây đủ lập nên một thổ cục rất lớn.
*Phía sau khuôn viên lăng mộ (nơi Ông Văn Đức Giai đặt bia đá đánh dấu khu vực huyệt) có một ụ đất lớn tự đùn lên. Đi tiếp lên trên núi phía bên trái có ba tảng đá lớn nắn dòng chảy khe nước, chắn không cho dòng chảy xói vào huyệt và ngăn đất đá từ trên núi lăn xuống – địa lý xưa gọi là hòn Định An. Phía trên bên phải huyệt có hai giếng nước không bao giờ cạn, kể cả năm hạn hán nhất, luôn luôn tràn nước tưới mát mộ phần – địa lý xưa gọi là vụng Sao Sa.(2)

(1)phần chấm lẫn này trong nguyên bản không rõ.
(2)phần in nghiêng được bổ sung sau bài viết của Ông Văn Đức Giai.
---ooOoo---

CẢO CỦA ÔNG CAO BIỀN

Quỳnh Lưu Tảo Nha,
Thế chính hình tà,
Song sinh phương ấn,
Hổ hiển mình sa,
Phong yên Hạc tất,
Gia nhân ngư hà,
Hậu sơn hoành cước,
Tiền án thô ba,
Hoàng xà xuất động,
Bạch nhạn dần hà,
Hỹ trường kỳ ngộ,
La liệt mau qua,
Vũ đông nhung lự,
Nam nhân hoàng gia.

₪₪₪♨₪₪₪
PHÚ VỀ HUYỆT MỘ
(Trích sao: Trường ca ký sự -Sơn Tùng Địa phương ký)
₪₪₪♨₪₪₪
Huyện Quỳnh Lưu xứ Tảo Nha,
Có hòn núi Sứ gần xa tỏ tường,
Địa phận Yên Phú là làng,
Thuộc xã Quỳnh Hợp là đường vào ra.
Cao Biền địa lý Trung Hoa,
Tới đây đã thế thi ca mấy lời:
Sứ Sơn phần mộ một ngôi,
Thế đất nghiêm chỉnh hình xuôi chiều tà
Tả cảnh Rồng sinh ra phương ấn,
Hữu Hổ trông như đám minh sa,
Lưng Ong gối Hạc thực là,
Thiên nhiên hình thể ai mà chẳng say,
Lánh mắt Cua, sáng tày tròng Cá,
Vẽ oai hùng bút tả hết đâu,
Vành ngoài dãy núi đứng sau,
Tõa vừng bán nguyệt bao quanh mộ phần.
Ngoại quan có Đồ Sơn Quỳnh Lập,
Cùng Hùng Dương xây đắp một làng.
Biển Đông là Đại Minh Đường,
Dập dìu sóng lượn đón đường công danh.
Vùng chính huyệt uy linh hùng dũng,
Tựa rắn Vàng trong động xuất ra.
Hình chim Nhạn Trắng đầu xa,
Như bay như lượn theo đà Mai Giang.
Bên án trước giăng hàng cờ trống,
La liệt bày súng ống can qua.
Đất này lắm thế tài ba,
Tướng Công ngồi đợi, Quân gia ngồi chầu.
Cả Văn,Võ, Công, Hầu, Khanh, Tướng,
Trai nhân duyên loan phượng hoàng gia.
Cháu con nối gót Ông, Cha,
Quyền cao, chức trọng được ca ngợi nhiều.
---ooOoo---
Huyệt mộ này có nhiều bí ẩn,
Tự thuở nào chưa nhận được ra,
Văn Thủy Tổ của Ông Bà,
Ngậm sâm yên nghĩ chính là nơi đây.
Giòng giống Văn Tộc ta nay,
Hằng năm cứ tới ngày 10 tháng 3,
Viếng thăm mộ Tổ họ nhà.
₪₪₪♨₪₪₪
VÈ TÍCH TỘC VĂN
Tích truyền Thủy Tổ họ Văn,
Từ phương Bắc đến ở ăn chốn này.
Trên sông Mai đêm ngày vui vẻ,
Đưa đò ngang làm kế sinh nhai.
Gia đình đầm ấm hôm mai,
Nhà nghèo đức hậu, nhà nhà ngợi khen.
Nhân gặp phải một đêm bảo tố,
Phía trước nhà đa đỗ gốc băng,
Dưới gốc đầy mấy tiểu vàng,
Ông Bà cất dấu dân làng chẳng hay.
Vẫn một niềm vui say chèo chống,
Đưa đò ngang sinh sống như xưa.
Vàng kia cứ để đợi chờ,
Chờ Trời định đoạt chẳng mơ ước giàu.
Một thời gian không lâu có khách,
Quanh quẩn vòng tỏ cách kiếm tìm,
Dần dà lui tới dò tin,
Ra vào nhà ở làm quen Ông Bà.
Hỏi tình hình cây đa cổ thụ,
Ông Bà bèn cho ngỏ tiểu vàng.
Khách thấy của sướng vô cùng ,
Trình bày di chúc cảm thông Ông Bà.
Số vàng được đưa ra đầy đũ,
Ông Bà giao chẳng giữ chút gì.
Thấy Ông Bà tính đức dị kỳ,
Khách xin nhận nữa nữa còn tạ ơn.
Ông Bà quyết chẳng cần của đó,
Vì của này không đổ mồ hôi.
Khách đã năn nĩ hết hơi,
Vẫn không chuyển nổi lòng người trượng phu.
Khách đành phải tìm lo kế khác,
Để đáp ân được bậc hào hùng.
Lùng xem địa lý trong vùng,
Sứ Sơn có huyệt vô cùng uy nghi.
---ooOoo---
Cảm thông cảnh biệt ly cao cả,
Cùng gia đình khách trả ân sâu.
Giống dòng con cháu đời sau,
Đời đời hạnh phúc, công hầu vinh quang.
Công việc khách đảm đang lo liệu,
Ông Bà ngồi chum kiệu ngậm sâm.
Ngọn đèn bách nhật tắt dần,
Ngôi nộ bí mật nhân dân biết gì.
Cảnh gia đình biệt ly, ly biệt,
Con cháu rồi cũng nghiệp cha ông,
Đưa thuyền qua lại thong dong,
Sinh nhai lối cũ như không biết gì.
Trãi ngày tháng có thì tướng giặc,
Được ăn rồi tự buột lấy tay,
Bảo nhà đò đem đến nộp ngay,
Ta xin nhận tội người rày được công.
---ooOoo---
Từ đó nổi một dòng cao quý,
Trải Đinh-Lê đến Lý-Trần-Lê.
Công hầu khanh tướng họ Văn,
Trong triều kính mến, ngoài dân vui mừng.
Bị loạn lạc nhiều lần mất tích,
Trong đời Trần có tích rõ ràng,
Văn Thể chức Chế Đại Vương,
Cầm cân xẻ mực cương thường đắn đo.
Cháu con đều công to giúp nước,
Một giống dòng chức tước cao sang.
Vua Trần ca ngợi khá nhiều,
Nhờ người Bắc quốc xét điều thịnh hưng.
Từ đó biết Văn nhân có mộ,
Thủy Tổ xưa đóng ở Sứ Sơn.
Đời đời kết phát đại thần,
Công hầu khanh tướng nhân dân đón mừng.
Đời Hậu Lê cũng từng nổi tiếng,
Cường Vù Hầu phong tiến Quận Công,
Năm con chí sĩ anh hùng,
Lớn công dẹp giặc yên lòng nhân dân.
Thời Lê Mật giặc quân phản nịnh,
Bao trung thần bị Trịnh ghét ghen.
Họ Văn đối thủ nhiều phen,
Giống dòng họ Trịnh nhiều phen nhức đầu.
Dụng ác tâm Trịnh cầu quỹ kế,
Để tiêu trừ hết kẻ trung kiên.
Quỳnh Lưu núi Sứ thẳng miền,
Trịnh sai vệ sỹ đến tìm mộ xưa.
Hiểu biết mộ Trịnh đưa quân tới,
Yểm phá đầy những lối hung tàn.
Cường Quận Công nay chốn thiên đường,
Căm hờn ân báo tác thương côn đồ.
---ooOoo---
Cuối Lê Mật mưu trừ diệt Trịnh,
Lê Duy Mật đề lệnh dấy quân.
Văn Sỹ Vệ một trung thần,
Đưa quân ứng chiến ân cần phò Lê.
Thực lực kém không đè nổi Trịnh,
Lê Duy Mật càng đánh càng thua.
Chúa Trịnh thắng thế đuổi xua,
Tìm kiếm đối thủ tha hồ diệt tiêu.
Giòng Văn tộc đa điều thê thảm,
Đổi họ tên lánh nạn tha phương.
Quản gì chốn hiễm đường trường,
An cư lạc nghiệp lo lường về sau.
Từ đây lại muôn vàng ảm đạm,
Gia phả xưa ai dám giữ gìn.
Dần dà quan hệ anh em,
Ở đâu biết đó đành quên giống dòng.
Đời Tự Đức có công Tiến Sỹ,
Văn Đức Giai lo nghĩ tìm Tông.
Trần, Lể nhiều Văn tướng công,
Phối hợp lời cảo của ông Cao Biền.
Huyện Quỳnh Lưu kết nên các phái,
Đâu đâu cũng gốc tại Hoàng Mai.
Hợp nhau nhân định lấy nơi,
Sứ Sơn mộ đó thật thời Tổ ta.
Nhất trí lại xét ra các Phái,
Thiện kỵ mộ tri phủ Kinh Môn,
Thôn Thọ Vinh mộ Quận Công Quỳnh.
Theo các di tích một lòng cùng nhau,
Hoàng Mai gốc Tổ từ lâu.
Thanh Minh hồi tế đâu cũng về.
---ooOoo---

Nay thời thế nhiều bề thay đổi,
Nhưng lòng nào quên nổi Tổ Tiên.
Quốc âm ghi để lưu truyền,
Con cháu hậu thế cũng nên tỏ tường.
Đời phong kiến chuyện thời phong kiến,
Tin hay không quan niệm từng người.
Tích xưa nào dám dối lời,
Dở hay hay dở người người dựng xây.
Anh em Văn Tộc vui vầy.
₪₪₪♨₪₪₪

Tác giả bài viết: Chưa biết

Nguồn tin: Văn Qúy Minh Tuấn sưu tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 13 trong 3 đánh giá

Xếp hạng: 4.3 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

logo
facebook comment
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây